Menu

4 Cách phân biệt chất lượng bông gốm

0 Comments

Dựa vào màu sắc

Bông gốm màu càng trắng thì chất lượng càng cao, màu càng tối – sẫm thì chất lượng càng thấp

Nguyên nhân là do khi sản xuất bông gốm, tùy yêu cầu sản phẩm mà chọn nguyên liệu tinh hay thô, lẫn nhiều tạp chất hay không.

Và việc phân biệt bằng màu sắc chỉ dành cho các kỹ thuật viên hiểu biết sâu sắc về sản phẩm. Đối với người sử dụng, phải đặt hai mẫu hay nhiều mẫu cạnh nhau để so sánh xem mẫu nào trắng hơn hay xỉn màu hơn mới phân biệt được.

Dựa vào độ xỉ

Xỉ – là phần xót lại của tạp chất trong nguyên liệu sản xuất bông gốm, không thể chuyển hóa thành sợi gốm, có dạng tròn, đường kính thường nhỏ hơn 1.5mm, trong suốt như thủy tinh, hơi ngả vàng.

Càng nhiều xỉ thì bông càng kém chất lượng.

Xỉ thường tồn tại trong bông gốm 1260 trở xuống, từ bông HP (Bông tinh khiết) trở lên thì không còn tồn tại xỉ hoặc cực thấp, gần như không có.

Cách xem xỉ nhiều hay ít: Thường với bông 1260, trong khoảng mặt cắt 300*300mm của khối bông tỷ trọng 220kg/m3, có từ 10-15 hạt là bình thường, nhiều hơn nữa sẽ làm kém chất lượng, nhiều nữa thì là bông 1050 hoặc kém hơn – các loại bông dùng bảo ôn chứ không dùng chịu lửa.

Dựa vào hàm lượng nhôm

Trước kia khi sản xuất bông gốm, các nhà sản xuất thường phải pha thêm bột nhôm oxid (Al2O3) để tăng khả năng chịu lửa của bông. Khi đó nguyên liệu giống nhau, chất lượng bột nhôm giống nhau thì hàm lượng nhôm lớn hơn sẽ đảm bảo khả năng chịu lửa lớn hơn.

Về sau này, khi nguyên liệu khan hiếm và đắt đỏ, các cơ sở lớn chấp nhận giá cao để mua những nguyên liệu tốt hơn còn các cơ sở nhỏ lẻ sẽ mua những sản phẩm kém hơn, kết hợp với việc sử dụng bột nhôm nhập khẩu chất lượng cao, do đó, thường thấy một số sản phẩm có hàm lượng nhôm 40% nhưng lại chịu lửa tốt hơn các sản phẩm có hàm lượng nhôm 50%.

Hiểu nôm na là 40% nhôm Nhập khẩu Úc hoặc Mỹ sẽ tốt hơn 50% bột nhôm của TQ sản xuất.

Dựa vào kết quả kiểm nghiệm tại phòng thí nghiệm.

Cần làm rõ 03 khái niệm phân tích sau mà người dùng ở Việt Nam rất mơ hồ:

1. Độ chịu lửa: Đây là nhiệt độ mà ở đó, vật liệu bắt đầu mềm ra, biến dạng.

Bông gốm có độ chịu lửa khoảng 1680 đến 1750, kết quả này không áp dụng vào việc lựa chọn sản phẩm dùng liên tục như lò tuynel nung gạch được. Bông dù tốt dù xấu, dù đắt dù rẻ thì độ chịu lửa cũng cao ngất ở tầm 1700 độ C.

2. Nhiệt độ sử dụng tối đa: Là kết quả mà người ta làm thí ngiệm, gia nhiệt trong vòng 2 tiếng đồ hồ rồi dựa vào độ co ngót của sản phẩm mà tính ra.

Tham số này chỉ dùng cho các trường hợp sử dụng bông gốm trong thời gian rất ngắn < 02 tiếng. Vì nếu quá 2 tiếng, vật liệu tiếp tục co ngót biến dạng.

Nhiệt độ sử dụng tối đa của bông gốm theo bảng sau:

3. Độ co ngót vĩnh cửu: là tham số nhiệt được tính ở nhiệt độ nhất định trong vòng 24h có độ co ngót < 3% (A * 24h < 3% – ở đây, A là nhiệt độ giới hạn an toàn)

Ví dụ: Bông 1260 có tham số: 1000* 24h < 3%, nếu tăng lên 100 độ: 1100*24h < 4.5%. Vậy nếu dùng vật liệu 1260 cố định một chỗ chịu lửa, sau 24h liên tục ở 1100 độ C mà co ngót tới 4.5% thì sẽ không đảm bảo an toàn nữa, gây hở các mạch nối và thoát nhiệt ra ngoài.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Gọi ngay 0915 171 896